Cây lá bỏng có tên khoa học là Kalanchoe pinata (Lam.) Pers. Cây thuộc họ thuốc bỏng (Crassulaceae) với nhiều tên thường gọi khác nhau như lá bỏng, sống đời, dã bất tử. Cây lá bỏng được trồng phổ biến ở nhiều nơi trong nước và các quốc gia khác để làm cảnh và làm thuốc. Cây có một sức sống hết sức mãnh liệt, đôi khi chỉ cần lá rụng xuống mặt đất là có thể mọc rễ phát triển thành một cây con. Cây cao cỡ 40 – 60cm, thân tròn, nhẵn, mọng nước, có đốm tía. Lá mọc đôi, chéo chữ thập, đơn hoặc gồm 3 – 4 lá chét dầy; mép khía răng cưa tròn. Hoa màu đỏ hay vàng, da cam, rủ xuống trên một cán dài ở ngọn thân hay ở lá bên cạnh. Mùa hoa vào tháng 2 đến tháng 5. Hiện nay, bằng các công nghệ áp dụng vào sản xuất giống, cây có thể cho hoa quanh năm với mục đích để làm cây cảnh.
Theo kinh nghiệm dân gian, tất cả những bộ phận của cây đều hoàn toàn có thể được sử dụng làm thuốc chữa bệnh, vì thế nên không ít người còn gọi đây là loại cây thuốc bỏng và bộ phận hay được dùng nhất là lá. Lá cây bỏng có công dụng làm giảm đau, giải độc, tiêu thũng, cầm máu và tiêu viêm. Lá cây cũng trị bỏng do nước, hoặc do lửa, trị các chứng đau nhức xương khớp, giải rượu hay viêm loét dạ dày. Ngoài ra cây lá bỏng còn được một số nước sử dụng để trị côn trùng cắn, sởi, bầm da …
Tác dụng của cây lá bỏng
- Với y học hiện đại:
Khi nghiên cứu cho thấy rằng cây lá bỏng chứa nhiều hoạt chất có lợi có thể kể đến như triterpenes, steroid, phenanthrene, flavonoid, flavones, chalcones, taraxasterol, aurones, phenolic acid, caffeic acid, syringic acid, malic, oxalic và ferulic acid. Các hoạt chất này có giá trị rất cao trong y học cũng như trong cuộc sống. (Theo Pereira KMF và cộng sự, Natural Product Communications. 2018;13(2). doi:10.1177/1934578X1801300213)
Gần đây nhất, các nhà khoa học của Chile đã nghiên cứu chiết xuất một số thành phần chứa trong lá bỏng. Kết quả thử nghiệm trên 03 dòng tế bào ung thư là tế bào ung thư đại tràng, tế bào ung thư tuyến tiền liệt và tế bào ung thư vú. Kết quả cho thấy sản phẩm chiết xuất có tác dụng rất tốt trên các dòng tế bào ung thư với giá trị IC50 ở khoảng 0.2 đến 14.4 µg/mL và đặc biệt là tác dụng rất chọn lọc khi giá trị SI = 8.4 (SI: Selectivity index, chỉ số chọn lọc bằng tỉ lệ giữa IC50 tế bào bình thường/IC50 tế bào ung thư. IC50 là Half maximal inhibitory concentration: Nồng độ ức chế tối đa trung bình. Theo Faundes-Gandolfo và cộng sự. BMC Complement Med Ther 24, 269 (2024). https://doi.org/10.1186/s12906-024-04570-7)
- Theo đông y:
Cây lá bỏng có vị nhạt, hơi chua, tính mát không độc, có tác dụng chỉ thống, giảm đau, hoạt huyết, tiêu độc, tiêu thũng… Ngoài những tác dụng đặc trưng là trị bỏng như tên gọi, thì cây lá bỏng còn dùng để chữa các loại bệnh như: bệnh sỏi thận, bệnh gút, ung loét, cao huyết áp và các loại bệnh về da, giảm sốt, chữa đau đầu, giảm đau, tức ngực, giảm ho hay điều hòa kinh nguyệt
Hiện tại, có rất nhiều quốc gia sử dụng là bỏng như các bài thuốc dân gian để điều trị các bệnh như nhức đầu, đau mắt, viêm họng. Hay như ở Ấn Độ, người ta sử dụng cây lá bỏng để chữa các vết côn trùng nhỏ cắn, sởi, bầm da.
Ở một số vùng, người ta còn lấy lá bỏng non để nấu canh ăn và dùng làm loại thuốc đắp lên vết thương, mụn nhọt, hoặc mắt đỏ sưng đau. Do trong lá bỏng có chứa nhiều hoạt chất kháng khuẩn nên cây lá bỏng còn được dùng cho các trường hợp bị viêm nhiễm ở trong và ngoài cơ thể như chữa bệnh đường ruột, hay viêm ruột, trĩ nội…
Một số bài thuốc dân gian hay từ cây lá bỏng:
- Chữa bỏng nhẹ: Lá bỏng một lượng đủ dùng, rửa sạch bằng nước muối loãng, để ráo, cho thêm 1 chút muối rồi giã nát. Dùng nước cốt bôi lên hoặc đắp cả bã lẫn nước lên vết bỏng.
- Chữa viêm họng: Lấy 10 lá bỏng rửa sạch. Sáng lấy 4 lá, chiều 4 lá, tối 2 lá nhai kỹ, ngậm 1 lúc rồi nuốt cả bã trong vòng 3 -5 ngày là khỏi.
- Chữa viêm xoang mũi: Lấy 2 lá bỏng rửa sạch bằng nước muối loãng, giã nát. Dùng bông thấm nước cốt nút vào lỗ mũi ngày 4 đến 5 lần. Nếu bị viêm cả 2 bên mũi thì sáng nút một bên chiều nút một bên.
- Trị thương: Đắp lá bỏng giã nhuyễn lên vết thương, cứ sau 3 giờ lại thay bằng lượt lá khác.
- Chữa trĩ nội: Rửa sạch hậu môn bằng nước muối. Lá bỏng rửa sạch, giã nát, vắt bớt nước đắp vào hậu môn, dùng miếng gạc băng vào. Mỗi ngày làm 3 lần với liều lượng sáng 4 lá, chiều 4 lá và tối 2 lá. Sử dụng liên tục trong 20-45 ngày.
- Chữa nhức đầu: Đun lá bỏng trong lò vi sóng hoặc trên bếp lửa vài giây cho lá bỏng nóng lên và mềm ra. Sau đó đắp lên trán khi lá vẫn còn đang nóng.
- Giảm đau lưng, đau xương khớp: Làm nóng và mềm lá bỏng theo cách trên, đắp lá bỏng lên vùng bị đau khi còn nóng. Nếu cần di chuyển thì có thể dùng khăn quấn lá bỏng xung quanh vùng bị đau để giữ ấm trong ngày.
- Chữa mất ngủ: Chiều và tối ăn mỗi lần 8 lá bỏng sẽ giúp giấc ngủ sâu và ngon hơn.
- Chữa chảy máu cam: Dùng nước cốt lá bỏng chấm vào 2 bên lỗ mũi bằng bông gòn.
#sinmind.vn #chemislife #triknotdocream


Có thể bạn quan tâm
Cây dâu tằm và những tác dụng của nó!
Cây dâu tằm (tên khoa học Morus alba L.), thuộc họ Dâu...
Cây Phỉ và công dụng của nó!
Cây Phỉ (tên khoa học Hamamelis virginiana L.), có nguồn gốc từ...
Ứng dụng vỏ trấu trong mỹ phẩm!
Gạo là lương thực chính cho khoảng một nửa dân số trên...
Cây mướp đắng – Thực phẩm được sử dụng nhiều trong y học
Mướp đắng (tên khoa học Momordica charantia), còn được gọi với các...
Rau má có những tác dụng gì với sức khỏe?
Rau má (tên khoa học Centella asiatica L.) đã được sử dụng...
Câu trầu không – Dược liệu quý trong y học!
Cây trầu không (tên khoa học Piper betle L.), thuộc họ Hồ...